Ngày hội sách trường THCS Quang Trung Đà Lạt 2024
Chí Phèo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường THCS Quang Trung
Ngày gửi: 14h:37' 19-01-2026
Dung lượng: 472.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường THCS Quang Trung
Ngày gửi: 14h:37' 19-01-2026
Dung lượng: 472.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHÍ PHÈO
Tác giả: Nam Cao
Lời nói đầu .
1
2
Lời nói đầu
Có những nhà văn mà tác phẩm càng đi vào thời gian càng có giá trị Nam
Cao ở vào trường hợp đó. Truyện của ông là những bộ nhớ ghi lại một
cách sống động những sinh hoạt đặc biệt của nông thôn Việt Nam cách đây
nửa thế kỷ. Ta yêu mến dân tộc ta. Ta tha thiết với những gì mà dân tộc ta
đã trải qua tất nhiên ta tha thiết và mến yêu những nét chấm phá trong
truyện của Nam Cao. ở đây có đầy đủ hết, từ anh mõ nghèo nàn nhưng ai
cũng sợ, đến những chức dịch luôn luôn ậm ọc nhưng chỉ biết có những
miếng đỉnh chung tại chốn đình chung, từ một anh tha phương cầu thực
tấp vào sống nhờ trong làng đến một người lính tập có dịp ra khỏi lũy tre
làng xã nên đã mở mắt với đời... đủ cả.
Có người nói Nam Cao nổi tiếng nhờ truyện Chí Phèo. Đúng, nhưng thiếu,
Chí Phèo là tuyệt đỉnh văn chương của Nam Cao, và các truyện khác của
ông cũng là những tác phẩm rất có giá trị trong văn chương Việt.
1.
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu
chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng
chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả
làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ, "Chắc nó trừ mình ra!"
Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được
mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng
cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ
hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến
nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ
nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi
cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có
trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết...
Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng
và xám ngắt trong một váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta rước
lấy và đem về cho một người đàn bà góa mù. Người đàn bà góa mù này
bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì
hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Năm hai mươi tuổi,
hắn làm canh điền cho ông lý Kiến, bấy giờ cụ bá Kiến, ăn tiên chỉ làng.
Hình như có mấy lần bà ba nhà ông lý, còn trẻ lắm mà lại hay ốm lửng, bắt
hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy. Người ta bảo ông lý ra đình
thì hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ này.
Người bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây, mà ông lý thì hay đau lưng
lắm; những người có bệnh đau lưng hay sợ vợ mà chúa đời là khoẻ ghen.
Có người bảo ông lý ghen với anh canh điền khoẻ mạnh mà sợ bà ba
không dám nói. Có người thì bảo anh canh điền ấy được bà ba quyền thu
quyền bổ trong nhà tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người
nói một cách. Chẳng biết đâu mà lần. Chỉ biết một hôm Chí bị người ta giải
huyện rồi biệt tăm đến bảy, tám năm rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần
về. Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông
đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt
thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc
quần áo nái đen với áo Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ
rồng, phượng với một ông thày tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế.
Trông gớm chết!
Hắn về hôm trước hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó
suốt từ trưa cho đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến
cổng nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi. Cụ bá không có nhà. Thấy
điệu bộ hung hăng của hắn, bả cả đùn bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà
tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chăng.
Mắc phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm
cầm một cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái
cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó chửi thì tai liền miệng ấy, chửi
rồi lại nghe. Thành thử chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượụ. Thật
là ầm ỹ! Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả:
xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi
người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại cả nhà cụ bá. Mà
chửi mới sướng miệng làm sao! Mới ngoa ngắt làm sao! Họ bảo nhau:
phen này cha con thằng bá Kiến đố còn dám vác mặt đi đâu nữa! Mồ mả tổ
tiên đến lộn lên mất. Cũng có người hiền lành hơn bảo, "Phúc đời nhà nó,
chắc ông lý không có nhà...". Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ bá
nổi tiếng là hách dịch, coi người như rơm rác. Phải ông lý Cường thử có
nhà xem nào! Quả nhiên họ nói có sai đâu! Đấy, có tiếng người sang sảng
quát, "Mày muốn lôi thôi gì? Cái thằng không cha không mẹ này! Mầy
muốn lôi thôi gì?..." Đã bảo mà! Cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường.
Lý Cường đã về! Lý Cường đã về! Phải biết... A ha! Một cái tát rất kêu.
Ôi! Cái gì thế nàỷ Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch. Thôi cứ gọi là tan
xương! Bỗng "choang" một cái, thôi phải rồi, hẳn đập cái chai vào cột
cổng... hắn kêu! Hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. hắn
kêu!
-- Ôi làng nước ôi! Cứu tôi với... Ôi làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó
đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!... Và họ
thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt.
Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông xáo quanh hắn, sủa rất
hăng. Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn mà cười nhạt, cười khinh bỉ. Hừ!
Ngỡ là gì, chẳng hoá ra nằm ăn vạ! Thì ra hắn định đến đây nằm vạ!
Người ta tuôn đến xem. Mấy cái ngõ tối chung quanh đùn ra biết bao
nhiêu là người! Thật ồn ào như chợ. Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá
vững dạ vì có anh lý, cũng xưng xỉa ra chửi góp. Thật ra, các bà muốn xem
Chí Phèo ra làm sao? Không khéo nó có ý gieo vạ cho cụ ông phen này...
Nhưng kia cụ ông đã về. Cụ cất tiếng rất sang hỏi: "Cái gì mà đông như
thế này?" Chỗ này "lạy cụ" chỗ kia "lạy cụ", người ta kính cẩn đứng giãn
ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài không nhúc nhích rên khe khẽ như gần chết.
Thoáng nhìn qua, đã hiểu cơ sự rồi. Làm lý trưởng rồi chánh tổng, bây giờ
lại đến lượt con cụ làm lý trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì.
Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:
-- Các bà đi vào nhà: đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
-- Cả các ông các bà nữa, về thôi đi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?
Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì nghĩ
đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi. Ai dại gì
đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng. Sau còn trơ lại Chí
Phèo và cha con cụ bá. Bây giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:
-- Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:
-- Tao chỉ liều chết với bố con nhà mầy đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có
thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm: người ta bảo cụ hơn
người cũng chỉ bởi cái cười.
-- Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người
chứ có phải có ngoé đâu? Lại say rồi phải không?
Rồi đổi giọng cụ làm thân mật hỏi:
-- Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:
-- Nào đứng lên đi. Cứ vào đâu uống nước đã. Có cái gì ta nói chuyện tử tế
với nhau. Cần gì phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết, mang
tiếng cả.
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
-- Khổ quá! Giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế
nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại
thằng lý Cường nóng tính không nghĩ trước nghĩ sau. Ai, chứ anh với nó
còn có họ kia đấy.
Chí Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi.
Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên. Cụ bá biết rằng mình đã thắng, đưa
mắt nháy con một cái:
-- Lý Cường đâu ! Tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước,
mau lên !
Cụ dắt Chí Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu đi;
hắn chỉ cố khập khiễng cái chân như bị què. Là vì lúc ấy trong người hắn
rượu đã hơi nhạt rồi, không còn kêu gào chửi bới; và không còn nghe kêu
gào chửi bới, hắn thấy hình như không hăng hái nữa. Sự ngọt ngào làm
mềm nhũn, vả lại những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hắn hình như
trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi của ngày xưa, hắn
thấy quá táo bạo. Không táo bạo mà dám gây sự với cha con lý Kiến, bốn
đời làm tổng lý. Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai. Hắn làm cái ông gì ở
làng này? Không vây cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có,
đến bố mẹ cũng không... ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau với lý trưởng,
chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại, Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào,
Bắc kỳ nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Thử hỏi đã
có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế? Kể
làm rồi có chết cũng là cam tâm. Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại
xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nư+'c. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào.
Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại
lừa hắn và nhà rồi lôi thôi? mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi
ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi
cho vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi
vu cho là ăn cướp thì sao? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn
đớp cái nước gì mà phải chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng
cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào.
Nhưng nghĩ ngợi một tí, hắn lại bảo: kêu lên cũng không nước gì! Lão bá
vừa nói một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa,
liệu có còn ai ra? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm
mấy nhát thì cũng đau. Thôi cứ vào! Vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập
đầu thì vào ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó
có giở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù. — tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ
vào...
Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả. Bá Kiến quả có ý muốn
dàn xếp cùng hắn thật. Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc đời, thứ
nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân. Chí Phèo không là
anh hùng, nhưng nó là cái thằng liều lĩnh. Liều lĩnh thì còn ai thèm chấp !
Thế nào là mềm nắn rắn buông? Cái nghề làm việc quan, nếu nhất nhất cái
gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm. Cụ vào bảo lý Cường như
thế đấy. Vũ dũng như hắn mà làm được lý trưởng là nhờ có cụ. Cụ mà chết
đi rồi "chúng nó" lại không cho ăn bùn.
Tiếng vậy, làm tổng lý không phải việc dễ. ở cái làng này, dân quá hai
nghìn, xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ làm lý
trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét. Hồi năm nọ, một thầy địa lý qua đây có
bảo đất làng này vào cái thế "quần ngư tranh thực", vì thế mà bọn đàn anh
chỉ là một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bảy mối,
bè nào cũng muốn ăn. Ngoài mặt tử tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng
lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ. Ngay thằng
Chí Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ẩy đến? Nếu
cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện có khi tốn tiền. Cái nghề quan bám
thằng có tóc ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng bỏ tù nó,
cũng có ngày nó được ra, liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ? Cụ
phải cái vụ thằng Năm Thọ, mãi đến bây giờ chưa quên.
Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu. Hồi ấy, bá Kiến mới ra làm
lý trưởng, nó hình như kình nhau với lão ra mặt; lý Kiến muốn trị nhưng
chưa có dịp. được ít lâu, hắn can dự và một vụ cướp bị bắt giam; lý Kiến
ngấm ngầm vận động cho vào tù. Vẩn tưởng một người vai vế như Năm
Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù làm gì còn dám vác cái mặt mo về
làng? Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cây đinh trước mắt. Nào ngờ
một buổi tối lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì Năm Thọ vác
dao xộc vào. Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu lên một tiếng thì đâm
chết liền, thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang tên
một người lương thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi. Nó bảo: nghe nó
thì nó đi biệt, mà không nghe nó thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra;
còn muốn sống với vợ con thì nghe nó.
Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe, Năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng không
bao giờ về nữa thật. Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ hết
những thằng du côn? Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lần về. Mà
thằng này lúc nó còn ở nhà, nào nó có ngạo ngược gì cho cam! Người ta đã
phải gọi hắn là cục đất. Ai bảo sao thì ư hữ làm vậy, mới quát một tiếng, thì
đã đái ra cả quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có con vợ
hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im im rồi về nhà hành vợ chứ
chẳng dám ho hoe gì, thế đấy: cái nghề đời hiền quá cũng hoá ngu, ở đâu
chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc đầu
lên được. Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm nghèo rớt mồng tơi; chỉ
vì một miếng cũng không giữ được mà ăn; đứa nào nó vớ nó cũng xoay,
mà đứa nào xoay cũng chịu. Sau cùng bực quá, hắn ra đi lính. Lại càng
thêm tội ! Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sây sớt ra
ngoài, những vẩn còn là vợ mình. Bực thì hoá ra mất vợ. Bởi vì chị vợ ở
nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng
nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt, ai mà chịu
được?
Nhà chị binh ở gần đường. Ông phó đi đánh bạc ban đêm về cũng tạt vào;
anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang, thậm
chí đến cái thằng hương điền, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho các
ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ gẩm. Vợ binh Chức đã nghiễm nhiên
thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý dịch lớn nhỏ trong làng
chuyên đổi. Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ, cũng không
nỡ bỏ hoài cái của không dưng được trời cho; và không bỏ hoài, ông còn
được lợi. Mỗi lần chị binh đi lĩnh lương hay lĩnh măngđda của chồng, phải
mượn ông lý đi nhận thực. Không ông lý nào vác nhà đi ăn mà nhận thực
cho người ta, điều ấy đã cố nhiên. Nhưng với lý Kiến thì không những
cơm rượu tiền túi, còn phải cho ngồi chung xe và con ở lại tỉnh nữa. Thế là
mấy đồng bạc lương đi đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được mấy
cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn. Thành
thử công lao anh binh, rút lại chỉ cho chị binh mỗi tháng mỗi lần hưởng
những cuộc vui với ông lý nhà.
Chẳng hiểu anh ta cũng biết thế mà chán cảnh nhà hay sao mà mãn hạn ba
năm cũng không thấy về. Rồi ít lâu sau, có trát về làng bắt tróc nã và áp
giải tên Trần Văn Chức. Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu tán không
về làng. Nhưng khai hôm trước thì hôm sau hắn về. Lý Kiến sai đầy tớ
đem trát đến nhà đòi hắn. Hắn đến ngay, nhưng lại dẩn theo cả vợ và hai
con. Không đợi ông lý nói một câu, hắn rút một con dao chọc tiết lợn ra,
nhăm nhăm cầm ở tay mà bảo rằng: "Chẳng nói dấu gì ông, tôi can án giết
người. Nếu ông không thương, mà bắt giải thì vợ con tôi chết đói. Thôi thì
đằng nào chúng nó cũng chết, tôi đâm chúng nó chết ở đây rồi ông bắt đi ở
tù luôn thể". Mắt hắn đỏ ngầu; lưỡi dao hắn hoa lên loang loáng, chỉ trông
cũng lạnh gáy. Hắn có thể giết người được lắm, mà không phải chỉ giết có
vợ và con thôi, khi hắn đã có gan đâm chết vợ con hắn thì hắn có kiêng gì
đến cái cổ của người khác nữa? Lý Kiến nghĩ ngợi một lúc rồi bảo cứ về
rồi ông liệu. Ông liệu nghĩa là ông che đậy cái án của hắn cho không ai biết
và mỗi lần có trát về nhắc, ông lại khai rằng: vẩn chưa có tên Chức về. Thế
là hắn cứ nghiễm nhiên sống ở ngay chính giữa quê hương hắn. Và bây giờ
người ta thấy vợ hắn rất chính chuyên mà lại trung thành, thị chăm chỉ làm
để nuôi hắn. Những ông trưởng, ông phó tự nhiên nghĩ bụng rằng: người ta
có chồng rồi mà còn chàng màng thì phải tội; ai cũng sinh tử tế cả chỉ trừ
anh binh, bởi vì Chức bây giờ lại rất mực là ngang ngược. Hắn ăn vườn
đấy, nhưng chẳng chịu nộp thuế cho ai. Thúc hắn thì hắn chửi, cắm vườn
hắn thì hắn chém, sinh chuyện với hắn thì chính lý trưởng làng có lỗi bởi vì
cố ý ẩn lậu hắn là một tên can phạm. ấy thế mà hắn cũng chưa vừa lòng
đâu. Một hôm, không hiểu nghĩ ngợi thế nào, hắn vác dao đến bảo thẳng
vào mặt lý kiến rằng:
-- Hồi tôi còn tại ngũ, tôi gởi về nhà có trăm. Không biết vợ tôi có tiêu pha
gì, hay là cho trai mà không còn một đồng nào cả. Tôi hỏi thì nó bảo: ở
nhà, đàn bà con gái một mình, không dám giữ tiền, được đồng nào mang
gửi ông lý cả. Tôi sợ nó bịa ra nên đã trói sẵn nó ở nhà. Bây giờ tôi đến
thưa với ông, tính toán xem được bao nhiêu cho đem về nuôi cháu. Thiếu
một đồng thì tôi không để yên cho chúng nó.
Lý Kiến hiểu rằng: "chúng nó" đây có thể gồm cả ông. Ông cười nhạt bảo
rằng:
-- Thế này này anh binh ạ: chị ấy gửi tôi thì quả là không có...
Hắn trợn mắt lên quát:
-- Thế thì thằng nào ăn đi?
Lý Kiến vội nói lấp ngay:
-- Thế nhưng mà anh có thiếu tiền thì cứ bảo tôi một tiếng. Chị ấy trót tiêu
đi rồi thì có giết cũng chẳng ra. Lôi thôi làm gì sinh tội.
Ông mở tráp ra quăng hắn năm đồng bạc. Hắn cầm lấy, "lạy ông" tử tế, rồi
xách dao ra về. Từ hôm ấy hắn thành tử tế với lý Kiến, nhận là chỗ đầy tớ
chân tay, nhưng lý Kiến thỉnh thoảng vẩn phải cho hắn tiền. Cho mãi đến
năm ngoái đây, hắn chết...
Thì năm nay lại nảy ra Chí Phèo, một thằng hiền lành như đất -- tội nghiệp
cho hắn, có lần lý Kiến thấy hắn vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run! Bỗng
nhiên vùng dậy già néo đứt dây. Cụ tiên chỉ làng Vũ Đại nhận ra rằng: đè
nén con em đến nỗi nó không chịu được phải bỏ làng đi là dại. Mười thằng
đã đi ra thì chín thằng trở về với cái vẻ hung đồ, cái tính ương ngạnh học
từ phương xa. Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm
ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy
đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại
năm hào "vì thương anh túng quá" ! Và cũng phải tùy mặt nữa: những
thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn, chính là những thằng sợ quan và dễ
bóp; trái lại, những thằng tứ cố vô thân, giết chúng nó thì dễ, nhưng được
chỉ còn có xương; mà gây với chúng là mở một dịp tốt để cho các phe
nghịch xoay lại mình. Làng nào cũng có nhiều cánh, mỗi cánh kết bè đảng
chung quanh một người: cánh cụ bá Kiến, cánh ông đội Tảo, cánh ông Tư
Đạm, cánh ông Bát Tùng... Bằng ấy cánh du lại với nhau để bóc lột con
em, nhưng ngấm ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau. Cụ lại nhận
ra rằng: ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền lành chỉ è cổ làm nuôi bọn lý hào,
nhưng chính bọn lý hào, nhiều khi lại phải ngậm miệng cung cấp cho
những thằng cùng hơn cả dân cùng liều lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao
đâm người hay đâm mình.
Nhưng cụ không phải là một người ưa than thở. Than thở chẳng ích gì cho
ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đèn nén kia sỡ dĩ bị đè nén suốt đời chỉ vì
khi bị đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác. Cụ bá
Kiến không cần than thở: trị không lợi thì cụ dùng. Cụ nghĩ bụng cũng phải
có những thằng đầu bò chứ? Không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị
những thằng đầu bò? Thế lực của cụ sở dĩ lấn át được các vây cánh khác,
một phần lớn cũng bởi cụ biết mềm biết cứng, biết thu phục những thằng
bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù. Những thằng ấy chính là những
thằng được việc. Khi cần đến, chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là c ó thể sai
nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình. Gặp người bướng bỉnh,
đanh thép thì nó lừa đốt nhà hay cho mấy lát dao; gặp người non mặt, thì
nó quăng chai rượu lậu, hay gây sự rồi lăn ra kêu làng. Có chúng nó sinh
chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên
phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế. Thuế một năm có một
lần nếu chỉ trông vào đấy thì bán cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba,
bốn nghìn bạc chạy chọt để tranh triện đồng.
Vì thế, đêm hôm ấy, ở nhà lý Kiến ra về, Chí Phèo vô cùng hả hê! Bá Kiến
đã không vu vạ gì cho hắn, lại còn giết gà mua rượu cho hắn uống, xong lại
đãi thêm đồng bạc để về uống thuốc. Đồng bạc, làm gì đến thế? Hắn loạng
choạng vừa đi vừa cười; hắn chẳng cần đến ba xu. Lúc ngồi tù, hắn có học
mót được mấy bài thuốc giấu: chỉ vài nắm lá, là mặt hắn lại đâu vào đấy
ngay. Còn đồng bạc lại để đi uống rượu...
Hắn uống được có vừa ba hôm, hôm thứ tư thì hắn trợn mắt lên, bảo con
mẹ hàng rượu rằng:
-- Hôm nay ông không có tiền; nhà mày bán chịu cho ông một chai. Tối
ông mang tiền đến trả.
Mụ hàng rượu hơi ngần ngừ. Thế là hắn rút bao diêm đánh cái xòe, châm
lên mái lều của mụ. Mụ hoảng hốt kêu la om xòm vội dập tắt được ngọn
lửa vừa mới cháy. Rồi khóc khóc mếu mếu, mụ đưa chai rượu. Hắn hầm
hầm, chĩa vào mặt mụ bảo rằng:
-- Cái giống nhà mày không ưa nhẹ! Ông mua chứ ông có xin nhà mày đâu!
Mày tưởng ông quĩt hở? Mày thử hỏi cả làng xem ông có quĩt của đứa nào
bao giờ không? Ông không thiếu tiền! Ông còn gửi đằng cụ bá, chiều này
ông đi lấy về ông trả.
Mụ vừa kéo vạt áo lên quệt nước mũi, vừa bảo:
-- Chúng cháu không dám chắc lép, nhưng quả là ít vốn.
Hắn quát lên:
-- ít vốn chỉ tối nay ông trả. Nhà mày đã chết ngay bây giờ hay sao?
Rồi hắn xách chai ra về. Hắn về cái miếu con ở bờ sông, vì vốn từ trước
đến nay không có nhà. Lúc đi đường hắn đã vặn được ở nhà nào đó bốn
quả chuối xanh, và bốc của một cô hàng xén một rúm con muối trắng. Bây
giờ hắn uống rượu với chuối xanh chấm muối trắng và thấy rằng cũng
ngon. Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon.
Uống xong hắn chùi miệng, rồi ngật ngà ngật ngưỡng đến nhà bá Kiến.
Gặp ai hắn cũng bảo: hắn đến nhà bá Kiến đòi nợ đây! Mới trông thấy hắn
vào đến sân, bá Kiến đã biết hắn đến sinh sự rồi. Cái mắt thì ngầu lên, hai
chân thì đi lảo đảo, cái môi bầm lại mà run bần bật. Cũng may, hắn không
cầm vỏ chai, bá Kiến cũng dõng dạc hỏi:
-- Anh Chí đi đâu đấy?
Hắn chào to:
-- Lạy cụ ạ. Bẩm cụ... Con đến cửa cụ để kêu cụ một việc ạ!
Giọng hắn lè nhè và tiếng đã gần như méo mó. Nhưng bộ điệu thì lại như
hiền lành; hắn vừa gãi đầu gãi tai, vừa lải nhải:
-- Bẩm cụ từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm có thế,
con có nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá! Đi ở tù còn
cơm để mà ăn, bây giờ về làng về nước, một thước cắm dùi không có, chả
làm gì nên ăn. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù...
Cụ bá quát, bắt đầu bao giờ cũng quát để thử dây thần kinh của người.
-- Anh này lại say khướt rồi.
Hắn xông lại gần, đảo ngược mắt giơ tay lên nửa chừng:
-- Bẩm không ạ, bẩm thật là không say. Con đến xin cụ cho con đi ở tù mà
nếu không đ
Tác giả: Nam Cao
Lời nói đầu .
1
2
Lời nói đầu
Có những nhà văn mà tác phẩm càng đi vào thời gian càng có giá trị Nam
Cao ở vào trường hợp đó. Truyện của ông là những bộ nhớ ghi lại một
cách sống động những sinh hoạt đặc biệt của nông thôn Việt Nam cách đây
nửa thế kỷ. Ta yêu mến dân tộc ta. Ta tha thiết với những gì mà dân tộc ta
đã trải qua tất nhiên ta tha thiết và mến yêu những nét chấm phá trong
truyện của Nam Cao. ở đây có đầy đủ hết, từ anh mõ nghèo nàn nhưng ai
cũng sợ, đến những chức dịch luôn luôn ậm ọc nhưng chỉ biết có những
miếng đỉnh chung tại chốn đình chung, từ một anh tha phương cầu thực
tấp vào sống nhờ trong làng đến một người lính tập có dịp ra khỏi lũy tre
làng xã nên đã mở mắt với đời... đủ cả.
Có người nói Nam Cao nổi tiếng nhờ truyện Chí Phèo. Đúng, nhưng thiếu,
Chí Phèo là tuyệt đỉnh văn chương của Nam Cao, và các truyện khác của
ông cũng là những tác phẩm rất có giá trị trong văn chương Việt.
1.
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu
chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng
chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả
làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ, "Chắc nó trừ mình ra!"
Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được
mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng
cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ
hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến
nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ
nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi
cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có
trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết...
Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng
và xám ngắt trong một váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta rước
lấy và đem về cho một người đàn bà góa mù. Người đàn bà góa mù này
bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì
hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Năm hai mươi tuổi,
hắn làm canh điền cho ông lý Kiến, bấy giờ cụ bá Kiến, ăn tiên chỉ làng.
Hình như có mấy lần bà ba nhà ông lý, còn trẻ lắm mà lại hay ốm lửng, bắt
hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy. Người ta bảo ông lý ra đình
thì hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ này.
Người bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây, mà ông lý thì hay đau lưng
lắm; những người có bệnh đau lưng hay sợ vợ mà chúa đời là khoẻ ghen.
Có người bảo ông lý ghen với anh canh điền khoẻ mạnh mà sợ bà ba
không dám nói. Có người thì bảo anh canh điền ấy được bà ba quyền thu
quyền bổ trong nhà tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người
nói một cách. Chẳng biết đâu mà lần. Chỉ biết một hôm Chí bị người ta giải
huyện rồi biệt tăm đến bảy, tám năm rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần
về. Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông
đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt
thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc
quần áo nái đen với áo Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ
rồng, phượng với một ông thày tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế.
Trông gớm chết!
Hắn về hôm trước hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó
suốt từ trưa cho đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến
cổng nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi. Cụ bá không có nhà. Thấy
điệu bộ hung hăng của hắn, bả cả đùn bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà
tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chăng.
Mắc phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm
cầm một cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái
cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó chửi thì tai liền miệng ấy, chửi
rồi lại nghe. Thành thử chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượụ. Thật
là ầm ỹ! Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả:
xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi
người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại cả nhà cụ bá. Mà
chửi mới sướng miệng làm sao! Mới ngoa ngắt làm sao! Họ bảo nhau:
phen này cha con thằng bá Kiến đố còn dám vác mặt đi đâu nữa! Mồ mả tổ
tiên đến lộn lên mất. Cũng có người hiền lành hơn bảo, "Phúc đời nhà nó,
chắc ông lý không có nhà...". Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ bá
nổi tiếng là hách dịch, coi người như rơm rác. Phải ông lý Cường thử có
nhà xem nào! Quả nhiên họ nói có sai đâu! Đấy, có tiếng người sang sảng
quát, "Mày muốn lôi thôi gì? Cái thằng không cha không mẹ này! Mầy
muốn lôi thôi gì?..." Đã bảo mà! Cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường.
Lý Cường đã về! Lý Cường đã về! Phải biết... A ha! Một cái tát rất kêu.
Ôi! Cái gì thế nàỷ Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch. Thôi cứ gọi là tan
xương! Bỗng "choang" một cái, thôi phải rồi, hẳn đập cái chai vào cột
cổng... hắn kêu! Hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. hắn
kêu!
-- Ôi làng nước ôi! Cứu tôi với... Ôi làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó
đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!... Và họ
thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt.
Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông xáo quanh hắn, sủa rất
hăng. Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn mà cười nhạt, cười khinh bỉ. Hừ!
Ngỡ là gì, chẳng hoá ra nằm ăn vạ! Thì ra hắn định đến đây nằm vạ!
Người ta tuôn đến xem. Mấy cái ngõ tối chung quanh đùn ra biết bao
nhiêu là người! Thật ồn ào như chợ. Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá
vững dạ vì có anh lý, cũng xưng xỉa ra chửi góp. Thật ra, các bà muốn xem
Chí Phèo ra làm sao? Không khéo nó có ý gieo vạ cho cụ ông phen này...
Nhưng kia cụ ông đã về. Cụ cất tiếng rất sang hỏi: "Cái gì mà đông như
thế này?" Chỗ này "lạy cụ" chỗ kia "lạy cụ", người ta kính cẩn đứng giãn
ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài không nhúc nhích rên khe khẽ như gần chết.
Thoáng nhìn qua, đã hiểu cơ sự rồi. Làm lý trưởng rồi chánh tổng, bây giờ
lại đến lượt con cụ làm lý trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì.
Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:
-- Các bà đi vào nhà: đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
-- Cả các ông các bà nữa, về thôi đi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?
Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì nghĩ
đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi. Ai dại gì
đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng. Sau còn trơ lại Chí
Phèo và cha con cụ bá. Bây giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:
-- Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:
-- Tao chỉ liều chết với bố con nhà mầy đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có
thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm: người ta bảo cụ hơn
người cũng chỉ bởi cái cười.
-- Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người
chứ có phải có ngoé đâu? Lại say rồi phải không?
Rồi đổi giọng cụ làm thân mật hỏi:
-- Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:
-- Nào đứng lên đi. Cứ vào đâu uống nước đã. Có cái gì ta nói chuyện tử tế
với nhau. Cần gì phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết, mang
tiếng cả.
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
-- Khổ quá! Giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế
nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại
thằng lý Cường nóng tính không nghĩ trước nghĩ sau. Ai, chứ anh với nó
còn có họ kia đấy.
Chí Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi.
Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên. Cụ bá biết rằng mình đã thắng, đưa
mắt nháy con một cái:
-- Lý Cường đâu ! Tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước,
mau lên !
Cụ dắt Chí Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu đi;
hắn chỉ cố khập khiễng cái chân như bị què. Là vì lúc ấy trong người hắn
rượu đã hơi nhạt rồi, không còn kêu gào chửi bới; và không còn nghe kêu
gào chửi bới, hắn thấy hình như không hăng hái nữa. Sự ngọt ngào làm
mềm nhũn, vả lại những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hắn hình như
trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi của ngày xưa, hắn
thấy quá táo bạo. Không táo bạo mà dám gây sự với cha con lý Kiến, bốn
đời làm tổng lý. Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai. Hắn làm cái ông gì ở
làng này? Không vây cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có,
đến bố mẹ cũng không... ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau với lý trưởng,
chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại, Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào,
Bắc kỳ nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Thử hỏi đã
có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế? Kể
làm rồi có chết cũng là cam tâm. Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại
xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nư+'c. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào.
Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại
lừa hắn và nhà rồi lôi thôi? mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi
ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi
cho vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi
vu cho là ăn cướp thì sao? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn
đớp cái nước gì mà phải chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng
cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào.
Nhưng nghĩ ngợi một tí, hắn lại bảo: kêu lên cũng không nước gì! Lão bá
vừa nói một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa,
liệu có còn ai ra? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm
mấy nhát thì cũng đau. Thôi cứ vào! Vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập
đầu thì vào ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó
có giở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù. — tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ
vào...
Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả. Bá Kiến quả có ý muốn
dàn xếp cùng hắn thật. Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc đời, thứ
nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân. Chí Phèo không là
anh hùng, nhưng nó là cái thằng liều lĩnh. Liều lĩnh thì còn ai thèm chấp !
Thế nào là mềm nắn rắn buông? Cái nghề làm việc quan, nếu nhất nhất cái
gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm. Cụ vào bảo lý Cường như
thế đấy. Vũ dũng như hắn mà làm được lý trưởng là nhờ có cụ. Cụ mà chết
đi rồi "chúng nó" lại không cho ăn bùn.
Tiếng vậy, làm tổng lý không phải việc dễ. ở cái làng này, dân quá hai
nghìn, xa phủ xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ làm lý
trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét. Hồi năm nọ, một thầy địa lý qua đây có
bảo đất làng này vào cái thế "quần ngư tranh thực", vì thế mà bọn đàn anh
chỉ là một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bảy mối,
bè nào cũng muốn ăn. Ngoài mặt tử tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng
lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ. Ngay thằng
Chí Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ẩy đến? Nếu
cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện có khi tốn tiền. Cái nghề quan bám
thằng có tóc ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng bỏ tù nó,
cũng có ngày nó được ra, liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ? Cụ
phải cái vụ thằng Năm Thọ, mãi đến bây giờ chưa quên.
Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu. Hồi ấy, bá Kiến mới ra làm
lý trưởng, nó hình như kình nhau với lão ra mặt; lý Kiến muốn trị nhưng
chưa có dịp. được ít lâu, hắn can dự và một vụ cướp bị bắt giam; lý Kiến
ngấm ngầm vận động cho vào tù. Vẩn tưởng một người vai vế như Năm
Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù làm gì còn dám vác cái mặt mo về
làng? Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cây đinh trước mắt. Nào ngờ
một buổi tối lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì Năm Thọ vác
dao xộc vào. Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu lên một tiếng thì đâm
chết liền, thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang tên
một người lương thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi. Nó bảo: nghe nó
thì nó đi biệt, mà không nghe nó thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra;
còn muốn sống với vợ con thì nghe nó.
Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe, Năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng không
bao giờ về nữa thật. Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ hết
những thằng du côn? Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lần về. Mà
thằng này lúc nó còn ở nhà, nào nó có ngạo ngược gì cho cam! Người ta đã
phải gọi hắn là cục đất. Ai bảo sao thì ư hữ làm vậy, mới quát một tiếng, thì
đã đái ra cả quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có con vợ
hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im im rồi về nhà hành vợ chứ
chẳng dám ho hoe gì, thế đấy: cái nghề đời hiền quá cũng hoá ngu, ở đâu
chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc đầu
lên được. Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm nghèo rớt mồng tơi; chỉ
vì một miếng cũng không giữ được mà ăn; đứa nào nó vớ nó cũng xoay,
mà đứa nào xoay cũng chịu. Sau cùng bực quá, hắn ra đi lính. Lại càng
thêm tội ! Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sây sớt ra
ngoài, những vẩn còn là vợ mình. Bực thì hoá ra mất vợ. Bởi vì chị vợ ở
nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng
nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt, ai mà chịu
được?
Nhà chị binh ở gần đường. Ông phó đi đánh bạc ban đêm về cũng tạt vào;
anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang, thậm
chí đến cái thằng hương điền, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho các
ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ gẩm. Vợ binh Chức đã nghiễm nhiên
thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý dịch lớn nhỏ trong làng
chuyên đổi. Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ, cũng không
nỡ bỏ hoài cái của không dưng được trời cho; và không bỏ hoài, ông còn
được lợi. Mỗi lần chị binh đi lĩnh lương hay lĩnh măngđda của chồng, phải
mượn ông lý đi nhận thực. Không ông lý nào vác nhà đi ăn mà nhận thực
cho người ta, điều ấy đã cố nhiên. Nhưng với lý Kiến thì không những
cơm rượu tiền túi, còn phải cho ngồi chung xe và con ở lại tỉnh nữa. Thế là
mấy đồng bạc lương đi đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được mấy
cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn. Thành
thử công lao anh binh, rút lại chỉ cho chị binh mỗi tháng mỗi lần hưởng
những cuộc vui với ông lý nhà.
Chẳng hiểu anh ta cũng biết thế mà chán cảnh nhà hay sao mà mãn hạn ba
năm cũng không thấy về. Rồi ít lâu sau, có trát về làng bắt tróc nã và áp
giải tên Trần Văn Chức. Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu tán không
về làng. Nhưng khai hôm trước thì hôm sau hắn về. Lý Kiến sai đầy tớ
đem trát đến nhà đòi hắn. Hắn đến ngay, nhưng lại dẩn theo cả vợ và hai
con. Không đợi ông lý nói một câu, hắn rút một con dao chọc tiết lợn ra,
nhăm nhăm cầm ở tay mà bảo rằng: "Chẳng nói dấu gì ông, tôi can án giết
người. Nếu ông không thương, mà bắt giải thì vợ con tôi chết đói. Thôi thì
đằng nào chúng nó cũng chết, tôi đâm chúng nó chết ở đây rồi ông bắt đi ở
tù luôn thể". Mắt hắn đỏ ngầu; lưỡi dao hắn hoa lên loang loáng, chỉ trông
cũng lạnh gáy. Hắn có thể giết người được lắm, mà không phải chỉ giết có
vợ và con thôi, khi hắn đã có gan đâm chết vợ con hắn thì hắn có kiêng gì
đến cái cổ của người khác nữa? Lý Kiến nghĩ ngợi một lúc rồi bảo cứ về
rồi ông liệu. Ông liệu nghĩa là ông che đậy cái án của hắn cho không ai biết
và mỗi lần có trát về nhắc, ông lại khai rằng: vẩn chưa có tên Chức về. Thế
là hắn cứ nghiễm nhiên sống ở ngay chính giữa quê hương hắn. Và bây giờ
người ta thấy vợ hắn rất chính chuyên mà lại trung thành, thị chăm chỉ làm
để nuôi hắn. Những ông trưởng, ông phó tự nhiên nghĩ bụng rằng: người ta
có chồng rồi mà còn chàng màng thì phải tội; ai cũng sinh tử tế cả chỉ trừ
anh binh, bởi vì Chức bây giờ lại rất mực là ngang ngược. Hắn ăn vườn
đấy, nhưng chẳng chịu nộp thuế cho ai. Thúc hắn thì hắn chửi, cắm vườn
hắn thì hắn chém, sinh chuyện với hắn thì chính lý trưởng làng có lỗi bởi vì
cố ý ẩn lậu hắn là một tên can phạm. ấy thế mà hắn cũng chưa vừa lòng
đâu. Một hôm, không hiểu nghĩ ngợi thế nào, hắn vác dao đến bảo thẳng
vào mặt lý kiến rằng:
-- Hồi tôi còn tại ngũ, tôi gởi về nhà có trăm. Không biết vợ tôi có tiêu pha
gì, hay là cho trai mà không còn một đồng nào cả. Tôi hỏi thì nó bảo: ở
nhà, đàn bà con gái một mình, không dám giữ tiền, được đồng nào mang
gửi ông lý cả. Tôi sợ nó bịa ra nên đã trói sẵn nó ở nhà. Bây giờ tôi đến
thưa với ông, tính toán xem được bao nhiêu cho đem về nuôi cháu. Thiếu
một đồng thì tôi không để yên cho chúng nó.
Lý Kiến hiểu rằng: "chúng nó" đây có thể gồm cả ông. Ông cười nhạt bảo
rằng:
-- Thế này này anh binh ạ: chị ấy gửi tôi thì quả là không có...
Hắn trợn mắt lên quát:
-- Thế thì thằng nào ăn đi?
Lý Kiến vội nói lấp ngay:
-- Thế nhưng mà anh có thiếu tiền thì cứ bảo tôi một tiếng. Chị ấy trót tiêu
đi rồi thì có giết cũng chẳng ra. Lôi thôi làm gì sinh tội.
Ông mở tráp ra quăng hắn năm đồng bạc. Hắn cầm lấy, "lạy ông" tử tế, rồi
xách dao ra về. Từ hôm ấy hắn thành tử tế với lý Kiến, nhận là chỗ đầy tớ
chân tay, nhưng lý Kiến thỉnh thoảng vẩn phải cho hắn tiền. Cho mãi đến
năm ngoái đây, hắn chết...
Thì năm nay lại nảy ra Chí Phèo, một thằng hiền lành như đất -- tội nghiệp
cho hắn, có lần lý Kiến thấy hắn vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run! Bỗng
nhiên vùng dậy già néo đứt dây. Cụ tiên chỉ làng Vũ Đại nhận ra rằng: đè
nén con em đến nỗi nó không chịu được phải bỏ làng đi là dại. Mười thằng
đã đi ra thì chín thằng trở về với cái vẻ hung đồ, cái tính ương ngạnh học
từ phương xa. Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm
ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy
đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại
năm hào "vì thương anh túng quá" ! Và cũng phải tùy mặt nữa: những
thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn, chính là những thằng sợ quan và dễ
bóp; trái lại, những thằng tứ cố vô thân, giết chúng nó thì dễ, nhưng được
chỉ còn có xương; mà gây với chúng là mở một dịp tốt để cho các phe
nghịch xoay lại mình. Làng nào cũng có nhiều cánh, mỗi cánh kết bè đảng
chung quanh một người: cánh cụ bá Kiến, cánh ông đội Tảo, cánh ông Tư
Đạm, cánh ông Bát Tùng... Bằng ấy cánh du lại với nhau để bóc lột con
em, nhưng ngấm ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau. Cụ lại nhận
ra rằng: ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền lành chỉ è cổ làm nuôi bọn lý hào,
nhưng chính bọn lý hào, nhiều khi lại phải ngậm miệng cung cấp cho
những thằng cùng hơn cả dân cùng liều lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao
đâm người hay đâm mình.
Nhưng cụ không phải là một người ưa than thở. Than thở chẳng ích gì cho
ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đèn nén kia sỡ dĩ bị đè nén suốt đời chỉ vì
khi bị đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác. Cụ bá
Kiến không cần than thở: trị không lợi thì cụ dùng. Cụ nghĩ bụng cũng phải
có những thằng đầu bò chứ? Không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị
những thằng đầu bò? Thế lực của cụ sở dĩ lấn át được các vây cánh khác,
một phần lớn cũng bởi cụ biết mềm biết cứng, biết thu phục những thằng
bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù. Những thằng ấy chính là những
thằng được việc. Khi cần đến, chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là c ó thể sai
nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình. Gặp người bướng bỉnh,
đanh thép thì nó lừa đốt nhà hay cho mấy lát dao; gặp người non mặt, thì
nó quăng chai rượu lậu, hay gây sự rồi lăn ra kêu làng. Có chúng nó sinh
chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên
phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế. Thuế một năm có một
lần nếu chỉ trông vào đấy thì bán cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba,
bốn nghìn bạc chạy chọt để tranh triện đồng.
Vì thế, đêm hôm ấy, ở nhà lý Kiến ra về, Chí Phèo vô cùng hả hê! Bá Kiến
đã không vu vạ gì cho hắn, lại còn giết gà mua rượu cho hắn uống, xong lại
đãi thêm đồng bạc để về uống thuốc. Đồng bạc, làm gì đến thế? Hắn loạng
choạng vừa đi vừa cười; hắn chẳng cần đến ba xu. Lúc ngồi tù, hắn có học
mót được mấy bài thuốc giấu: chỉ vài nắm lá, là mặt hắn lại đâu vào đấy
ngay. Còn đồng bạc lại để đi uống rượu...
Hắn uống được có vừa ba hôm, hôm thứ tư thì hắn trợn mắt lên, bảo con
mẹ hàng rượu rằng:
-- Hôm nay ông không có tiền; nhà mày bán chịu cho ông một chai. Tối
ông mang tiền đến trả.
Mụ hàng rượu hơi ngần ngừ. Thế là hắn rút bao diêm đánh cái xòe, châm
lên mái lều của mụ. Mụ hoảng hốt kêu la om xòm vội dập tắt được ngọn
lửa vừa mới cháy. Rồi khóc khóc mếu mếu, mụ đưa chai rượu. Hắn hầm
hầm, chĩa vào mặt mụ bảo rằng:
-- Cái giống nhà mày không ưa nhẹ! Ông mua chứ ông có xin nhà mày đâu!
Mày tưởng ông quĩt hở? Mày thử hỏi cả làng xem ông có quĩt của đứa nào
bao giờ không? Ông không thiếu tiền! Ông còn gửi đằng cụ bá, chiều này
ông đi lấy về ông trả.
Mụ vừa kéo vạt áo lên quệt nước mũi, vừa bảo:
-- Chúng cháu không dám chắc lép, nhưng quả là ít vốn.
Hắn quát lên:
-- ít vốn chỉ tối nay ông trả. Nhà mày đã chết ngay bây giờ hay sao?
Rồi hắn xách chai ra về. Hắn về cái miếu con ở bờ sông, vì vốn từ trước
đến nay không có nhà. Lúc đi đường hắn đã vặn được ở nhà nào đó bốn
quả chuối xanh, và bốc của một cô hàng xén một rúm con muối trắng. Bây
giờ hắn uống rượu với chuối xanh chấm muối trắng và thấy rằng cũng
ngon. Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon.
Uống xong hắn chùi miệng, rồi ngật ngà ngật ngưỡng đến nhà bá Kiến.
Gặp ai hắn cũng bảo: hắn đến nhà bá Kiến đòi nợ đây! Mới trông thấy hắn
vào đến sân, bá Kiến đã biết hắn đến sinh sự rồi. Cái mắt thì ngầu lên, hai
chân thì đi lảo đảo, cái môi bầm lại mà run bần bật. Cũng may, hắn không
cầm vỏ chai, bá Kiến cũng dõng dạc hỏi:
-- Anh Chí đi đâu đấy?
Hắn chào to:
-- Lạy cụ ạ. Bẩm cụ... Con đến cửa cụ để kêu cụ một việc ạ!
Giọng hắn lè nhè và tiếng đã gần như méo mó. Nhưng bộ điệu thì lại như
hiền lành; hắn vừa gãi đầu gãi tai, vừa lải nhải:
-- Bẩm cụ từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm có thế,
con có nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá! Đi ở tù còn
cơm để mà ăn, bây giờ về làng về nước, một thước cắm dùi không có, chả
làm gì nên ăn. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù...
Cụ bá quát, bắt đầu bao giờ cũng quát để thử dây thần kinh của người.
-- Anh này lại say khướt rồi.
Hắn xông lại gần, đảo ngược mắt giơ tay lên nửa chừng:
-- Bẩm không ạ, bẩm thật là không say. Con đến xin cụ cho con đi ở tù mà
nếu không đ
 





